Tập trung nguồn lực để phát triển và nâng cao hiệu quả các kênh cung ứng vốn khác nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

05/09/2023 3.749 lượt xem
Cỡ chữ

Nguồn vốn cung ứng cho các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất đa dạng, thường qua các kênh chính sau: (1) Thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), nguồn vốn cấp dựa trên tài sản qua các hình thức như cho thuê tài chính, thuê mua trả góp, bao thanh toán (nguồn vốn này thường được cung cấp bởi các TCTD phi ngân hàng); (2) Thông qua thị trường tài chính bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua việc sử dụng các công cụ vốn; (3) Nguồn vốn trực tuyến (cho vay ngang hàng, công nghệ tài chính – fintech). Về bản chất, hệ thống các TCTD sẽ đảm nhận vai trò cung ứng vốn ngắn hạn, trong khi đó, thị trường tài chính sẽ đảm nhận vai trò chủ đạo trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tại Việt Nam, với đặc thù thị trường vốn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của mình nên nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng.

Nhiều văn bản, chính sách hỗ trợ DNNVV được triển khai

Tại Việt Nam, DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chiếm 97% số lượng các doanh nghiệp và đóng góp khoảng 40% GDP, thu hút hơn 60% lao động. Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ luôn quan tâm thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh; đồng hành và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phát triển vững mạnh, nhất là đối với DNNVV. Nhiều hệ thống văn bản được ban hành để hỗ trợ và phát triển DNNVV như Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 của Quốc hội, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV; Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV; Quyết định số 601/QĐ-TTg ngày 17/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc  thành lập Quỹ phát triển DNNVV.
 


Để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, ngoài kênh vốn tín dụng ngân hàng, cần tập trung phát triển và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên các kênh huy động vốn khác cho doanh nghiệp như thị trường vốn, thị trường cho thuê tài chính…

 
Bên cạnh đó, một loạt các chính sách hỗ trợ DNNVV được triển khai và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2023 như: Các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 06/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp; Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 03/10/2017 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022; Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023; chính sách tín dụng cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên của NHNN được triển khai từ trước đến nay; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh dịch Covid-19 trong đó phải kể đến các Thông tư cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 của NHNN; Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 21/4/2023 về một số chính sách, giải pháp trọng tâm hỗ trợ doanh nghiệp chủ động thích ứng, phục hồi nhanh và phát triển bền vững đến năm 2025…
 
Kênh tín dụng vẫn là nguồn cung ứng chủ yếu cho DNNVV

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, kênh tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng kinh doanh của các DNNVV. Tính đến cuối năm 2022, tỉ lệ tín dụng/GDP ở mức 125,34%. Việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn sẽ tạo ra rủi ro nhất định cho nền kinh tế: (i) TCTD tiếp tục chịu áp lực về thanh khoản; (ii) Đối với nền kinh tế, rủi ro gia tăng lạm phát khi dựa quá nhiều vào tăng trưởng tín dụng; (iii) Tiếp tục tạo sự mất cân xứng về vai trò giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Vì vậy, cần có những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các kênh huy động vốn trên thị trường vốn và các kênh huy động vốn khác cho DNNVV nhằm san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thống các TCTD cũng như tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển bền vững, đảm bảo an toàn cho hoạt động các TCTD.

Tại Việt Nam hiện nay, hệ thống các TCTD đang làm tốt vai trò huy động vốn của mình. Dư nợ DNNVV đến cuối tháng 6/2023 đạt gần 2,3 triệu tỉ đồng, tăng gần 6% so với cuối năm 2022 và tăng cao hơn mức tăng tín dụng toàn nền kinh tế, chiếm khoảng 18,3% dư nợ toàn hệ thống các TCTD. Trong khi đó, các loại hình định chế tài chính trung gian khác còn phát triển chậm, phạm vi và quy mô hoạt động vẫn còn nhỏ và chủ yếu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn đang niêm yết. Điều này phần nào cũng ảnh hưởng đến khả năng đa dạng hóa các kênh huy động vốn của phần lớn các DNNVV. Bản thân DNNVV cũng gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, một phần do lịch sử tín dụng của doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của TCTD, vấn đề về tài sản thế chấp, mức tín nhiệm chưa cao, báo cáo tài chính chưa đáp ứng…

DNNVV gặp nhiều hạn chế trong huy động vốn trên thị trường vốn

Đối với kênh huy động vốn qua thị trường vốn, trong bối cảnh hiện nay khi thị trường vốn còn nhiều vướng mắc, có những tồn tại nhất định và cần thời gian để xử lí triệt để. Hầu hết các DNNVV không thể tiếp cận được nguồn vốn trung, dài hạn thông qua việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề về minh bạch thông tin của doanh nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện về phát hành và niêm yết trái phiếu theo quy định pháp luật và sự thiếu vắng của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập trên thị trường tài chính Việt Nam. Về phía doanh nghiệp, bên cạnh những kết quả đã đạt được, các DNNVV còn một số hạn chế nhất định như trình độ công nghệ chưa phát triển, mô hình quản trị doanh nghiệp còn yếu, năng suất lao động thấp, sự minh bạch về thông tin còn hạn chế… Những nhược điểm này phần nào đã hạn chế khả năng tiếp cận những nguồn vốn trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp thông qua việc phát hành chứng khoán, tìm kiếm nguồn vốn từ đối tác chiến lược, thu hút vốn từ các quỹ đầu tư… Do đó, kênh huy động vốn qua thị trường vốn gần như không có hiệu quả đối với DNNVV.

Các quỹ hỗ trợ cho DNNVV hoạt động kém hiệu quả

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nước thường có những biện pháp hỗ trợ DNNVV tiếp cận các nguồn vốn vay đến từ các định chế tài chính phi ngân hàng như công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ bảo lãnh… Nhiều nước như Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc… có các chương trình bảo lãnh tín dụng của Chính phủ hay Phát triển ngân hàng chuyên biệt cho DNNVV. Tuy nhiên, hoạt động của các quỹ tại Việt Nam để hỗ trợ DNNVV chưa phát huy hiệu quả.

Thứ nhất, Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tại Việt Nam hoạt động kém hiệu quả, chưa phát huy được vai trò hỗ trợ doanh nghiệp, nguyên nhân là do điều kiện để doanh nghiệp được bảo lãnh tương đối chặt chẽ. Theo đó, với các điều kiện chặt chẽ tương đương các điều kiện vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp rất khó tiếp cận được nguồn vốn từ quỹ bảo lãnh (đặc biệt là điều kiện liên quan đến tài sản bảo đảm), bởi lẽ, nếu doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định thì sẽ đến ngân hàng để vay vốn, không cần thông qua quỹ, để phải mất thêm phí bảo lãnh (Điều 16 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP)1. Với trường hợp doanh nghiệp được bảo lãnh tín chấp, thì Chủ tịch của Quỹ hay Hội đồng tín dụng cấp bảo lãnh chịu trách nhiệm bảo toàn vốn cũng như các nguyên tắc về quản lí tài chính (Điều 25 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP)2. Quy định này đã khiến những người đứng ra bảo lãnh tín chấp cho doanh nghiệp vay vốn ái ngại vì sợ trách nhiệm, do đó, quy định này khó khả thi thực hiện. Một trong các điều kiện thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng là vốn điều lệ thực có tối thiểu tại thời điểm thành lập Quỹ là 100 (một trăm) tỉ đồng do ngân sách cấp tỉnh cấp3. Việc quy định mức vốn điều lệ tối thiểu này chỉ phù hợp với thành phố lớn, trong khi tại các địa phương thì nguồn lực có hạn; do đó, quy định này cũng tạo ra nhiều bất cập.

Thứ hai, hành lang pháp lí cho việc phát triển Quỹ đầu tư mạo hiểm còn thiếu. Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/2003 của Chính phủ về việc ban hành quy chế khu công nghệ cao, chỉ quy định về quỹ đầu tư mạo hiểm trong khu công nghiệp. Tuy nhiên, DNNVV lại không mặn mà trong việc tiếp cận các quỹ này, do các quỹ trên thị trường muốn tham gia quản lí doanh nghiệp hay sở hữu cổ phần lớn tại các doanh nghiệp.

Khả năng tiếp cận vốn của DNNVV qua kênh dựa trên tài sản chưa phát triển

Trên thế giới, hoạt động cho thuê tài chính rất phát triển và là một trong những kênh hỗ trợ vốn cực kì hiệu quả và hữu ích cho DNNVV. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hoạt động này hiện còn hạn chế. Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về hoạt động của công ty tài chính và cho thuê tài chính, cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Trong đó: Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Cụ thể, tài sản cho thuê tài chính là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và được hướng dẫn cụ thể các loại tài sản cho thuê trong từng thời kì. Như vậy, nếu DNNVV không đủ điều kiện vay vốn ngân hàng, hoàn toàn có thể tận dụng kênh huy động vốn này để phát triển doanh nghiệp. Hiện nay, tổng dư nợ cho thuê tài chính/tổng tín dụng cho nền kinh tế còn thấp; đến cuối năm 2022, chiếm khoảng 0,33%. Do đó, tiềm năng để phát triển kênh cung ứng vốn này cho DNNVV là rất lớn. Năm 2023, tăng trưởng GDP dự kiến tăng khoảng 5 – 6,5%; trong đó, dự kiến mức chi nhập khẩu máy móc, thiết bị sẽ tăng 3 – 6% so với năm 2022. Theo đó, cần phải có các chính sách nhằm khuyến khích phát triển thị trường cho thuê tài chính thông qua việc khuyến khích sử dụng dịch vụ/tài sản thuê tài chính.

Từ những phân tích ở trên, để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, trong đó có DNNVV, ngoài kênh vốn tín dụng ngân hàng đang làm tốt và vượt quá vai trò, sứ mệnh của mình, cần tập trung phát triển và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên các kênh huy động vốn khác cho doanh nghiệp như thị trường vốn, thị trường cho thuê tài chính. Bản thân doanh nghiệp cũng cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, xây dựng phương án, dự án sản xuất, kinh doanh khả thi, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng và cần cải thiện hơn nữa nhận thức về các kênh huy động vốn khác ngoài hệ thống ngân hàng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Quốc hội, Chính phủ.
 

 

1 Điều 16. Điều kiện để được cấp bảo lãnh tín dụng

Các đối tượng được bảo lãnh tín dụng quy định tại Điều 15 Nghị định này chỉ được Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét cấp bảo lãnh khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay.
2. Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh theo quy định tại Nghị định này.
3. Có phương án về vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh tại thời điểm Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định để xem xét cấp bảo lãnh.
4. Tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, doanh nghiệp không có các khoản nợ thuế từ 01 năm trở lên theo Luật Quản lý thuế và nợ xấu tại các tổ chức tín dụng. Trường hợp nợ thuế do nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp phải có xác nhận của cơ quan quản lý thuế trực tiếp.
 5. Có biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

2 Điều 25. Biện pháp bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn

1. Các biện pháp bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn của Quỹ bảo lãnh tín dụng quy định tại Nghị định này gồm: a) Quyền tài sản, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng hoặc tài sản hiện có của bên thứ ba; b) Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá của Quỹ bảo lãnh tín dụng; c) Xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá xếp hạng của Quỹ bảo lãnh tín dụng là doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho khoản vay tại tổ chức cho vay.
2. Quỹ bảo lãnh tín dụng đánh giá và quyết định việc sử dụng một hoặc nhiều biện pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định này. Trường hợp miễn tài sản bảo đảm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, Quỹ bảo lãnh tín dụng trình Chủ tịch Quỹ xem xét, quyết định biện pháp bảo đảm tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này theo quy định tại Quy chế về các trường hợp được miễn tài sản bảo đảm tại khoản 4 Điều này.
3. Trong từng trường hợp, bên được bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất với Quỹ bảo lãnh tín dụng về biện pháp bảo đảm và ghi cụ thể trong hợp đồng bảo lãnh tín dụng quy định tại Nghị định này.
4. Quỹ bảo lãnh tín dụng trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quy chế về các biện pháp bảo đảm, thẩm quyền quyết định đối với từng biện pháp bảo đảm, trường hợp miễn tài sản bảo đảm của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào các tiêu chí: Lĩnh vực ngành nghề ưu tiên phát triển của địa phương, điều kiện tài chính của doanh nghiệp, mức độ rủi ro của dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của Quỹ bảo lãnh tín dụng và các tiêu chí khác theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3 Điều 5. Điều kiện thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng

1. Vốn điều lệ thực có tối thiểu tại thời điểm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng là 100 (một trăm) tỷ đồng do ngân sách cấp tỉnh cấp.
2. Có Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình và được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đề án phải bao gồm các nội dung cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này.
3. Có dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng phù hợp với quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan.
4. Danh sách các thành viên dự kiến của Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm: Chủ tịch, Kiểm soát viên, Giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm những người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 Nghị định này.

Linh Phương (NHNN)

Chia sẻ

In trang

Bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu


Bình luận

Đóng lại
ok

Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập

Các tin tức khác
Xem tất cả

Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố

Giải pháp tăng cường phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố

24/11/2023
105 lượt xem
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố cũng gia tăng, gây nhiều hệ lụy tiêu cực. Đây là cuộc chiến thực sự và đòi hỏi Việt Nam cần liên tục cập nhật, nhận diện và hoàn thiện các giải pháp đồng bộ nhằm ngăn chặn kịp thời và hiệu quả các hành vi này, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp

Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp

17/11/2023
320 lượt xem
Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam

Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam

07/11/2023
670 lượt xem
Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhất là trong các hoạt động của tổ chức tín dụng. Ngày 30/9/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 11/2022/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư số 11/2022/TT-NHNN), trong đó, tại Điều 9 có điểm mới nổi bật là hoạt động bảo lãnh điện tử.

Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”

Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”

28/10/2023
797 lượt xem
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 7/2023, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen cho biết: “Bộ Tài chính Hoa Kỳ ghi nhận các thành tựu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quá trình hiện đại hóa công tác điều hành chính sách tiền tệ, cụ thể là cơ chế điều hành tỉ giá. Tỉ giá đã trở nên linh hoạt và minh bạch hơn. Có thể nói, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tỉ giá đang được phát huy tốt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Hai năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua các cú sốc lớn và theo quan điểm của tôi, việc điều hành tỉ giá linh hoạt hơn đã giúp Việt Nam vượt qua những cú sốc này”.

Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

18/10/2023
1.167 lượt xem
Trong 9 tháng đầu năm 2023, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Tài chính phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam nhìn từ góc độ chính sách

Tài chính phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam nhìn từ góc độ chính sách

13/10/2023
1.472 lượt xem
Những năm qua, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã trở thành chủ đề được phân tích và bàn luận rộng rãi tại nhiều diễn đàn với các góc độ tiếp cận khác nhau. Thực tế cho thấy, tác động của CMCN 4.0 đã và đang hiện diện rõ nét trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và chính trị tại Việt Nam.

Một số quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

Một số quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

06/10/2023
2.165 lượt xem
Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sau hơn 12 năm thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã soạn thảo Dự thảo Luật Các TCTD (sửa đổi), dự kiến Chính phủ sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023).

Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

03/10/2023
1.997 lượt xem
Rửa tiền là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự an toàn và minh bạch của hệ thống tài chính tiền tệ và an ninh quốc gia. Hiện nay, với sự phát triển của môi trường số, sự hỗ trợ của công nghệ khiến hành vi rửa tiền ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp và khó kiểm soát. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia trong thời kì hội nhập quốc tế.

Triển khai thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và một số khuyến nghị

Triển khai thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và một số khuyến nghị

29/09/2023
1.912 lượt xem
Trong những năm qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo thêm vốn sản xuất, kinh doanh đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn. Một trong những chính sách nổi bật và đã phát huy hiệu quả là Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP được đánh giá là bước đột phá mở rộng cả về đối tượng, hạn mức và thủ tục vay so với các chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn trước đây.

Tín dụng đầu tư của Nhà nước - Sự cần thiết cho đầu tư phát triển quốc gia

Tín dụng đầu tư của Nhà nước – Sự cần thiết cho đầu tư phát triển quốc gia

28/09/2023
2.112 lượt xem
Tín dụng đầu tư của Nhà nước là tín dụng do Nhà nước thực hiện để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế và các vùng khó khăn cần khuyến khích, nhằm thực hiện định hướng phát triển kinh tế – xã hội từng thời kì.

Đổi mới sáng tạo với phát triển khu đô thị công nghệ cao Việt Nam

Đổi mới sáng tạo với phát triển khu đô thị công nghệ cao Việt Nam

27/09/2023
2.206 lượt xem
Đổi mới sáng tạo cùng với phát triển khoa học, công nghệ đóng vai trò đột phá chiến lược trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực công nghệ mới.

Để dòng vốn ngân hàng tiếp tục góp phần vào mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Để dòng vốn ngân hàng tiếp tục góp phần vào mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

26/09/2023
2.942 lượt xem
Thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã tích cực thực hiện cấp tín dụng cho các ngành, lĩnh vực xanh, phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để thực hiện mục tiêu quốc gia về tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, còn nhiều rào cản khiến quy mô tín dụng xanh chưa được như kì vọng.

Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại ngân hàng và một số kiến nghị hoàn thiện

Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại ngân hàng và một số kiến nghị hoàn thiện

21/09/2023
2.744 lượt xem
Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong ngân hàng là vấn đề rất cần thiết bởi điều này góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển an toàn và lành mạnh.

Thông tư số 06 góp phần giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay

Thông tư số 06 góp phần giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay

19/09/2023
2.929 lượt xem
Ngày 28/6/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 06/2023/TT-NHNN (Thông tư số 06) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN (Thông tư số 39) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây viết tắt là TCTD) đối với khách hàng.

Phối hợp đồng bộ các giải pháp trong đẩy lùi “tín dụng đen”

Phối hợp đồng bộ các giải pháp trong đẩy lùi “tín dụng đen”

15/09/2023
2.948 lượt xem
Thời gian qua, NHNN đã hoàn thiện khung khổ pháp lí về hoạt động cho vay, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển các dịch vụ trực tuyến, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều quy định để tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, hỗ trợ hoạt động vay vốn của người dân, doanh nghiệp. NHNN cũng thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tài chính, tín dụng mở rộng, đa dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm lãi suất, đơn giản hóa thủ tục cho vay nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng qua các kênh chính thức, đặc biệt là với người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

leo

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

789win

12Bet

789win

789win